WWW.DIENDANLUAT.COM.VN : PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT ĐẾN MỌI NHÀ

CHÀO MỪNG TẤT CẢ CÁC BẠN ĐẾN VỚI WWW.DIENDANLUAT.COM.VN

thong bao tu dien dan luat viet nam

Kết quả 1 đến 10 của 10
  1. #1
    Hiện đang
    Offline
    Ngày tham gia
    Apr 2012
    Bài viết
    6

    Mặc định Xin tư vấn về tranh chấp trong quá trình chuyển nhượng đất đai

    Chào các anh chị.Năm 2007 gia đình tôi mua 1 phần đất 250m2 trên 1 thửa đất 1000m2 bằng giấy viết tay với giá 54 triệu, đưa ngay 50 triệu, còn 4 triệu đưa nốt sau khi hoàn thành thủ tục giấy tờ chuyển nhượng. Khi viết giấy mua bán và giao tiền thì bên bán có mặt cả 2 vợ chồng nhưng chỉ có người chồng ký, có 1 người hàng xóm làm chứng.Tại thời điểm mua bán mảnh đất chưa có sổ đỏ, bên bán nói chuẩn bị làm thủ tục cấp sổ đỏ. Từ 2007 tới 2011, khi hỏi gia đình tôi hỏi có sổ đỏ chưa để làm thủ tục chuyển nhượng thì bên bán đều trả lời là chưa có sổ đỏ.Năm 2011 gia đình tôi lên xã hỏi mới biết là thửa đất 1000 m2 trên đã được cấp sổ đỏ từ 2008. Khi gia đình tôi đề nghị bên bán làm thủ tục chuyển nhượng thì họ yêu cầu đưa thêm 150 triệu mới ký giấy tờ chuyển nhượng, gia đình tôi không đồng ý và đề nghị UBND xã hòa giải.Tại buổi hòa giải, gia đình tôi đề nghị làm thủ tục chuyển nhượng 200m2 đất thay vì 250m2 như giấy cũ, bên bán đồng ý. Sau khi gia đình tôi đóng thêm tiền chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất vườn sang đất ở để hoàn thành việc tách sổ 200m2 thì bên bán lại từ chối ký giấy tờ chuyển nhượng.Nhờ các anh chị tư vấn giúp gia đình nên khởi kiện yêu cầu bên bán tiếp tục thực hiện giao dịch mua bán đất hay khởi kiện yêu cầu bên bán trả lại tiền. Nếu kiện đòi lại tiền thì số tiền bên bán phải trả lại sẽ được tính như thế nào? Trong trường hợp gia đình tôi yêu cầu bên bán trả lại số tiền là A nhưng tòa án lại quyết định bên bán phải trả số tiền B (lớn hơn hoặc nhỏ hơn A) thì án phí sẽ được tính như thế nào?Cảm ơn các anh chị.

  2. #2
    Hiện đang
    Offline
    Ngày tham gia
    Jul 2011
    Vị trí hiện tại
    Hồ Chí Minh
    Bài viết
    1,179

    Mặc định

    Bạn vui lòng scan biên bản hòa giải tại UBND xã lên diễn đàn để mọi người nghiên cứu, trao đổi với bạn!
    Cái gì nhẫn được thì nhẫn, không nhẫn được cũng phải nhẫn.
    _ _ _ Nguyễn Quyết Quyền _ _ _


  3. #3
    Hiện đang
    Offline
    Ngày tham gia
    Apr 2012
    Bài viết
    6

    Mặc định

    Biên bản hòa giải chỉ có 1 bản do nhân viên tư pháp xã giữ, bạn có thể cho biết bạn cần thông tin gì về biên bản hòa giải được không, vì có thể tuần sau tôi về quê mới hỏi mượn được. Bên bán chỉ có người chồng tham dự buổi hòa giải.

  4. #4
    Hiện đang
    Offline
    Ngày tham gia
    Jul 2011
    Vị trí hiện tại
    Hồ Chí Minh
    Bài viết
    1,179

    Mặc định

    Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ được lập thành văn bản mà không có công chứng nên đã vi phạm về mặt hình thức theo quy định tại Điều 689 BLDS 2005. Hơn nữa nếu quyền sử dụng đất trên là tài sản chung của vợ chồng người bán thì hợp đồng cũng bị vô hiệu do thiếu chữ ký của người vợ. Trường hợp này nếu chọn đường kiện tụng thì gia đình bạn chỉ có cách là khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu thôi, bởi vì án phí của yêu cầu này là không có giá ngạch và chỉ là 200.000đ, và đây là yêu cầu có cơ sở. Còn nếu yêu cầu bên bán tiếp tục thực hiện hợp đồng thì không có cơ sở. Còn yêu cầu trả lại tiền thì bạn phải nộp tiền tạm ứng án phí có giá ngạch.
    Hậu quả khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu là các bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi thì phải bồi thường, nhưng thường thường thì lỗi do vi phạm về hình thức đưuọc chia đều cho 2 bên nên sẽ không có bên nào phải bồi thường cả.
    Theo tôi thì tốt nhất là các bên nên tìm cách để tự thỏa thuận với nhau.


    Sửa lần cuối bởi QuyetQuyen; 04-15-2012 lúc 09:41 AM.
    Cái gì nhẫn được thì nhẫn, không nhẫn được cũng phải nhẫn.
    _ _ _ Nguyễn Quyết Quyền _ _ _


  5. #5
    Hiện đang
    Offline
    Ngày tham gia
    Apr 2012
    Bài viết
    6

    Mặc định

    Theo tôi tìm hiểu thì nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004 của hội đồng thẩm phán TAND tối cao, phần II, mục 2.3.B2 có nêu:
    B.2. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tại thời điểm giao kết vi phạm các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2, 3 mục 2 này, nhưng sau đó đã được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 mà có phát sinh tranh chấp và từ ngày 01/7/2004 mới có yêu cầu Toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này.
    Theo tôi hiểu thì nếu đồng thời vi phạm về hình thức (điểm A.6) và vi phạm về dất chưa được cấp GCNQSDĐ (điểm A.4) nhưng sau đó đã được cấp GCNQSDĐ thì không coi hợp đồng là vô hiệu do vi phạm điều kiện A.4 và A.6. Tôi có tham khảo ở COI CHỪNG VI PHẠM HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG thì thấy ví dụ:
    Theo điều 134, Bộ luật Dân sự 2005, “trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”. Thực tế cho thấy, tòa án đã áp dụng điều 134, Bộ luật Dân sự 2005 ra quyết định buộc vợ chồng ông A và vợ chồng ông B phải thực hiện các thủ tục để hoàn thiện hình thức hợp đồng mua bán căn nhà trong thời gian một tháng. Theo đó, vợ chồng ông A và vợ chồng ông B phải đem hợp đồng mua bán căn nhà đi công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền trong thời gian ấn định là một tháng. Tuy nhiên, vì muốn lấy lại căn nhà nên vợ chồng ông A đã không làm việc này. Vì vậy, việc khắc phục vi phạm về hình thức hợp đồng đã không thể thực hiện được, tòa án buộc phải tuyên bố hợp đồng vô hiệu và xác định vợ chồng ông A là bên có lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu. Với nhận định đó, tòa án căn cứ vào điều 137, Bộ luật Dân sự 2005 buộc vợ chồng ông B phải trả lại căn nhà cho vợ chồng ông A, đồng thời yêu cầu vợ chồng ông A trả lại cho vợ chồng ông B tiền bán căn nhà đã nhận và phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho vợ chồng ông B.
    Tôi có thắc mắc là theo nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP thì hợp đồng chuyển nhượng không vô hiệu do lỗi vi phạm hình thức, nhưng có thể vô hiệu do vi phạm điểm A.5? do chỉ có người chồng ký vào hợp đồng
    A.5. Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện về nhận chuyển nhượng theo qui định của pháp luật;
    Còn theo ví dụ trên áp dụng điều 134, Bộ luật Dân sự 2005 để buộc 2 bên khắc phục lỗi vi phạm hình thức, nếu 1 trong 2 bên không thực hiện thì hợp đồng chuyển nhượng được tuyên vô hiệu và bên từ chối thực hiện lại theo đúng quy định về hình thức được coi là bên có lỗi. Xin bạn cho biết tôi có hiểu sai chỗ nào trong phần trên không?

  6. #6
    Hiện đang
    Offline
    Ngày tham gia
    Apr 2012
    Bài viết
    6

    Mặc định

    Ngoài ra nếu hợp đồng vô hiệu do bên bán chỉ có 1 người ký thì lỗi này dược xác định do bên nào? Nếu lỗi do cả 2 bên thì mỗi bên phải chịu 1 phần bồi thường thiệt hại tương ứng với lỗi của mình hay không bên nào phải bồi thường thiệt hại?

  7. #7
    Hiện đang
    Offline
    Ngày tham gia
    Jul 2011
    Vị trí hiện tại
    Hồ Chí Minh
    Bài viết
    1,179

    Mặc định

    Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của nhà bạn được thực hiện năm 2007, trong khi điểm b2 tiểu mục 2.3 mục 2 phần II nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP điều chỉnh những hợp đồng thực hiện trong khoảng thời gian từ 15/10/1993 đến trước ngày 1/7/2004. Từ ngày 1/7/2004 - ngày mà luật Đất đai 2003 có hiệu lực thì mọi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bắt buộc phải được công chứng, chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phần đất chuyển nhượng phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hợp đồng mới tuân thủ về mặt hình thức của hợp đồng.

    Sửa lần cuối bởi QuyetQuyen; 04-14-2012 lúc 06:22 PM.
    Cái gì nhẫn được thì nhẫn, không nhẫn được cũng phải nhẫn.
    _ _ _ Nguyễn Quyết Quyền _ _ _


  8. #8
    Hiện đang
    Offline
    Ngày tham gia
    Apr 2012
    Bài viết
    6

    Mặc định

    Không rõ nhận định của bạn có dựa vào quy định khác đã được thay thế cho điểm b2 tiểu mục 2.3 mục 2 phần II nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP hay không.
    2.3. Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau này 15/10/1993 ... B.2. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tại thời điểm giao kết vi phạm các điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2, 3 mục 2 này, nhưng sau đó đã được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 mà có phát sinh tranh chấp và từ ngày 01/7/2004 mới có yêu cầu Toà án giải quyết, thì không coi là hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện này.
    Theo phần trích dẫn ở trên thì tiểu mục 2.3 điều chỉnh những hợp đồng xác lập sau 15/10/1993, và điểm b2 trong tiểu mục 2.3 điều chỉnh những hợp đồng có tranh chấp mà yêu cầu Tòa án giải quyết lần đầu sau ngày 01/7/2004. Điểm b1 mới điều chỉnh những hợp đồng giao kết trong khoảng thời gian từ 15/10/1993 đến trước ngày 1/7/2004. Ngoài ra nếu tôi hiểu đúng thì theo điều 134 BLDS thì tòa án sẽ buộc các bên thực hiện quy định về hình thức, nếu sau thời hạn bắt buộc mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu, khi đó lỗi làm giao dịch vô hiệu sẽ thuộc về bên từ chối thực hiện quy định về hình thức.
    Điều 134. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.
    Tôi xin thêm thông tin liên quan. Miếng đất này do ba tôi mua, khi hòa giải cũng chỉ có ba tôi tham gia, tôi ở xa không về được. Ba tôi kể khi ký giấy mua bán và giao tiền có mặt cả 2 vợ chồng người bán và 1 người hàng xóm làm chứng nên lúc đầu tôi suy nghĩ theo hướng yêu cầu thực hiện hợp đồng. Tôi không rõ Tòa án có chất vấn cả 2 bên và người làm chứng để xác định sự thực là hợp đồng có hay không sự đồng thuận của cả 2 vợ chồng người bán (dù trên giấy chỉ có 1 chữ ký), nhưng tôi nghĩ khả năng này thấp. Sau khi tìm hiểu thêm thì tôi nghĩ tới việc hợp đồng vô hiệu, do chưa có sổ đỏ (A4), không đủ điều kiện chuyển nhượng do chỉ có 1 chữ ký (A5) và vi phạm về hình thức (A6) theo nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP. Trước khi lên diễn đàn hỏi thì tôi cho rằng điểm B2 áp dụng được cho trường hợp gia đình tôi và khi đó hợp đồng vô hiệu do vi phạm điểm A5, tuy nhiên tôi vẫn không rõ xác định lỗi 2 bên trong trường hợp này thế nào. Sau khi bạn QuyetQuyen dẫn BLDS trả lời thì tôi tìm hiểu thêm về BLDS và thấy điều 134 quy định lỗi vi phạm về hình thức được cho 1 thời gian để khắc phục, do đó lỗi vi phạm về hình thức dẫn đến hợp đồng vô hiệu sẽ thuộc về bên từ chối thực hiện khắc phục. Vậy nếu tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu như bạn QuyetQuyet tư vấn thì lỗi sẽ được xác định như thế nào, tiền bồi thường (nếu có) được tính như thế nào, tiền đã đóng chuyển đổi mục đích sử dụng đất được xử lý thế nào, trong trường hợp có bồi thường thì án phí có tính theo giá ngạch không?

  9. #9
    Hiện đang
    Offline
    Ngày tham gia
    Jan 2010
    Vị trí hiện tại
    TP HCM
    Bài viết
    1,935

    Mặc định

    Chào các bạn,
    Đọc qua chủ đề này tôi thấy bạn vivian đã nghiên cứu thật kỹ những căn cứ pháp luật liên quan tới vụ việc của mình, tuy nhiên bạn chỉ mới viện dẫn những căn cứ pháp luật có lợi và bỏ sót những căn cứ pháp luật không có lợi. Vụ việc của bạn phải áp dụng các căn cứ pháp luật sau đây ( sắp xếp theo thứ tự thời gian ) để giải quyết :

    1- Luật đất đai 2003 : qui định một trong những điều kiện để người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng là phải có GCNQSDĐ ( điểm a khoản 1 điều 106 ).
    2- Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2008 : qui định HĐ chuyển nhượng QSDĐ được lập sau ngày 15/10/1993 mà tại thời điểm giao kết có vi phạm do bên chuyển nhượng không có GCNQSDĐ và HĐ không được công chứng, chứng thực, nhưng sau đó đất được cấp GCNQSDĐ và 2 bên có tranh chấp, khởi kiện ra tòa kể từ 01/7/2004 trở đi thì tòa sẽ KHÔNG COI HĐ VÔ HIỆU ( điểm b2, tiết b tiểu mục 2.3 )
    3- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 : qui định kể từ ngày 01/01/2007 người sử dụng đất phải có GCNQSDĐ mới được chuyển nhượng, tức pháp luật cấm người sử dụng đất nhưng không có GCNQSDĐ được chuyển nhượng ( điều 184 )
    4- Bộ luật dân sự 2005 : Qui định hợp đồng dân sự bị vô hiệu nếu vi phạm điều cấm của Pháp luật ( điều 128, điều 410 )
    5- Nghị định 84/2007/NĐ-CP : qui định kể từ ngày 01/01/2008 người sử dụng đất phải có GCNQSDĐ mới được chuyển nhượng, tức pháp luật cấm người sử dụng đất nhưng không có GCNQSDĐ được chuyển nhượng ( khoản 1 điều 66 ) và qui định diện tích tối thiểu để được tách thửa đối với từng loại đất ( điều 17 ).

    Như vậy, căn cứ điểm b2, tiết b tiểu mục 2.3 mục 2 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP thì HĐ của bạn vivian không vi phạm điểm a4 và a6 nhưng đã vi phạm điểm a5 vì bên chuyển nhượng không có GCNQSDĐ là không đủ điều kiện chuyển nhượng như qui định tại điểm a khoản 1 điều 106 LĐĐ 2003. Do tiết a qui định Tòa chỉ công nhận HĐ khi có đầy đủ 6 điều kiện từ a1 tới a6 nên dù chỉ vi phạm 1 điểm a5 thì HĐ vẫn vô hiệu. Ngoài ra căn cứ điều 128, 410 Bộ luật dân sự 2005, căn cứ điều 184 Nghị định 181/2004?NĐ-CP, căn cứ khoản 1 điều 66 Nghị định 84/2007/NĐ-CP thì Hợp đồng này cũng bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và thiếu chữ ký đồng ý chuyển nhượng của người đồng chủ sử dụng đất. Mặt khác, Tòa cũng không thể tuyên xử theo điều 134 BLDS 2005 bởi với diện tích 200m2 đất vườn thì chưa đủ để được tách thửa nên sẽ không được công chứng, chứng thực hợp đồng chuyển nhượng như qui định tại khoản 4 điều 17 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ( có lẻ hiểu rõ việc này nên gia đình bạn vivian đã đưa tiền cho bên chuyển nhượng xin chuyển mục đích sử dụng đất đối với 200m2 đất vườn để sau đó chuyển nhượng lại cho vivian theo dạng đất ở ).

    Qua phân tích nêu trên, khả năng yêu cầu tòa tuyên hợp đồng vô hiệu là khả thi nhất, khi vô hiệu thì của ai trả về nấy, bạn vivian đã đưa cho bên kia bao nhiêu tiền ( có chứng cứ ) thì được nhận lại bấy nhiêu. Tới đây có lẻ bạn vivian đã hiểu trường hợp này cả hai bên đều có lỗi như nhau nên không ai phải bồi thường. Đây chính là hậu quả xấu của việc mua bán đất bằng giấy tay mà chúng ta vẫn nghe cảnh báo hàng ngày.
    Trân trọng.

  10. #10
    Hiện đang
    Offline
    Ngày tham gia
    Apr 2012
    Bài viết
    6

    Mặc định

    Cảm ơn luật sư, tôi đã hiểu thêm về trường hợp của gia đình. Vì hợp đồng ký trong khoảng từ 1-1-2007 đến 30-6-2007 nên vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật (điều 184 NĐ 181). Về việc tách thửa và chuyển đổi mục đích sử dụng đất thì do trong giấy mua bán chỉ ghi chung chung là 250m2 đất, sau khi bên bán có GCNQSDĐ thì trong GCNQSDĐ này ghi có 200m2 đất ở và 800m2 đất vườn. Bên địa chính nói muốn tách sổ thì phải đóng tiền chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho phần được tách (tiền này gia đình tôi đã đóng trực tiếp không qua bên bán, bên bán chỉ ở nhà ký giấy tách thửa), còn con số 200m2 là hình thành sau quá trình hòa giải: bên bán yêu cầu thêm 150 triệu thì ký giấy 250m2 => bên mua đề nghị 210m2 => bên bán đề nghị thêm 10 triệu (ký giấy 210m2) => bên mua đề nghị thay 10 triệu đó bằng 10m2, chỉ lấy 200m2 => 2 bên đồng ý. Tôi vẫn còn thắc mắc về trường hợp khi tòa tuyên hợp đồng vô hiệu, 2 bên có lỗi như nhau nên không ai phải bồi thường, theo như tôi tìm hiểu:
    Trích dẫn Gửi bởi BLDS 1995
    Điều 137. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội 1- Giao dịch dân sự có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, thì vô hiệu; tài sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu, sung quỹ nhà nước. 2- Trong trường hợp có thiệt hại mà các bên đều có lỗi, thì mỗi bên tự chịu phần thiệt hại của mình; nếu chỉ một bên có lỗi, thì bên đó phải bồi thường thiệt hại cho bên kia.
    Trích dẫn Gửi bởi Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP 16/4/2003
    2.4. Giải quyết hậu quả của hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu
    Trích dẫn Gửi bởi Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP 10/8/2004
    C.2. Xác định lỗi, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Việc xác định lỗi, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại được thực hiện theo hướng dẫn tại điểm a và điểm b tiểu mục 2.4 mục 2 Phần I của Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình"
    Theo 3 văn bản trên thì 2 bên không ai phải bồi thường, dựa theo điều 137 BLDS 1995. Theo BLDS 2005:
    Trích dẫn Gửi bởi BLDS 2005
    Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu 1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại 1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Điều 616. Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau. Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.
    Liệu tôi có thể căn cứ vào BLDS 2005 để yêu cầu bồi thường thiệt hại được không.


 

Thông tin về chủ đề này

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Các Chủ đề tương tự

  1. chuyện nuôi con trong vấn đề ly hôn
    Bởi mystyle_2688 trong diễn đàn Tư vấn Luật hôn nhân và gia đình
    Trả lời: 1
    Bài cuối: 06-07-2011, 02:51 PM
  2. chuyển nhượng trong doanh nghiệp
    Bởi lethu3006 trong diễn đàn Thảo luận Luật đất đai
    Trả lời: 0
    Bài cuối: 05-15-2011, 09:11 AM
  3. Xin tư vấn giúp với! Chuyện tranh chấp!
    Bởi vphc trong diễn đàn Tư vấn Luật đất đai
    Trả lời: 5
    Bài cuối: 03-01-2011, 02:58 PM
  4. Nguyên nhân ách tắc trong giải quyết tranh chấp đất đai
    Bởi vietvovi trong diễn đàn Nhàn đàm về Tư pháp & Nghề Luật
    Trả lời: 1
    Bài cuối: 04-05-2010, 06:29 PM

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •